Grammar – Adverbs – Trạng Từ/ Phó Từ

I. Trạng từ/ Phó từ

1) Cách dùng

  • Bổ trợ cho Động từ

He drives carefully.

  • Trả lời cho các câu hỏi How often, Where, How much, How,When

 

How often?

Verb

How?

Where?

When?

(How?)

I

often

go

to school

in the morning

by motorbike.

She

 

has worked

very hard

at the factory

for 10 years.

I’m writing a Task 2 now.Trạng từ có thể là một từ hoặc một cụm từ

            I’m outside my office.

  • Theo sau một số Động từ là Tính từ thay vì Trạng từ (xem lại bài G1-Tính từ)

Xu feels very tired.

She is beautiful.

She seems serious about that.

2) Cách tạo Trạng từ

  • Tính từ + ly

perfect + ly -> perfectly

normal + ly -> normally

  • Qui tắc đánh vần
    • Tính từ -y: bỏ y thêm ily (e.g. easy ->easily)
    • Tính từ -le: bỏ e thêm y (e.g. reliable -> reliably)
    • Tính từ -e: thêm ly (e.g. accurate -> accurately)
    • Một số từ kết thúc bằng –ly nhưng là Tính từ: friendly, likely, lonely, lovely, silly, ugly

3) Trạng từ bất qui tắc

Tính từ

Trạng từ

Good

Well

Fast

Fast

Early

Early

Hard

Hard

Late

Late

Daily

Daily

Weekly

Weekly

Monthly

Monthly…

Chú ý:  – Well còn là tính từ, mang nghĩa là khỏe (= fine)

            – Hardly mang nghĩa là hiếm khi (= rarely, almost not)

            – Lately            mang nghĩa là gần đây (=recently)

4) Vị trí của Trạng từ

  • Đa phần Trạng từ đứng sau Động từ
  • Nếu có nhiều Trạng từ, thứ tự của chúng như sau:

            How?   Where?     When?

            Xu ran fast to school at 7.00 a.m.

  • Trạng từ chỉ How often?, already, also, just, still, even, only thường đứng:
    • trước động từ: I never see her.
    • trước động từ, sau trợ động từ: I have never been there.
    • sau to be: I am often late for school.
    • Trạng từ không bao giờ đứng giữa Động từ và Tân ngữ trực tiếp

He speaks English fluently. (not He speaks fluently English.)

 Bài tập cho bài học ngày hôm nay, các bạn nhấp vào đây để tải. Đáp án sẽ có trong bài học lần sau, chúc các bạn học tốt.

II. Đáp án bài học Grammar – Adjectives – Tính từ

Các bạn xem lại bài học tại đây nhé

C1:       2 g       3 e       4 f        5 c       6 a       7 b

C2:       2. I wore my dirty old blue jeans when I painted the ceiling.

            3. I borrowed my sister’s lovely long silk dress to wear to the party.

            4. I was surprised that Mike wore that white cotton jacket.

            5. He bought some expensive new shoes yesterday.

            6. Jenny’s father gave her a beautiful long gold necklace for her 18th birthday.

C3:       2 tired             3 bored            4 tiring                        5 surprised      6 excited         7 boring

            8 amazing       9 annoyed       10 interested

C4:       bus stop           city centre       credit card      football boots              evening performance

            film star          fire engine      police car        traffic jam                   wedding invitation

            2 film star       3 credit card               4 football boots

            5 evening performance                      6 traffic jam

C5:       lovely and sandy -> lovely sandy

            old beautiful -> beautiful old (opinion, age)

            galleries art -> art galleries

            cheaps -> cheap

            restaurant favourite -> favourite restaurant

            excited -> exciting

Kinh nghiệm ôn tập trước khi thi IELTS

IELTS Listening

– Ôn lại cách phát âm các âm và chữ cái trong bảng tiếng Anh theo các accent Anh, Mỹ, Úc (Chú ý giọng Mỹ vùng bờ đông East Coast và các bang miền Nam hơi khó nghe hơn và giọng Úc thì bẹt hơn so với giọng Anh).
– Ôn lại cách phát âm bật hơi âm đuôi và qui tắc nối âm: looks at (lúc xẹt)
– Luyện tập thật nhiều
– Tập nghe headphone ở chế độ nhỏ

IELTS Reading

– Chiến thuật: skimming (matching headings), scanning for object/ detail (multiple choice A, B, C, D…; matching ideas…; gap filling), canning for the whole idea (T/F/NG, Y/N/NG). Các dạng multiple choice và matching headings/ideas… đưa về dạng T/F/NG rồi dùng phương pháp loại trừ để lọc ra đáp án đúng
– Cách ôn tập: làm từng dạng một, mỗi dạng làm tối thiểu 8 đề.
– May mắn (đề thi vô biên, số may thì vào đề dễ hiểu, số khổ thì đề hóc :D)

IETLS Writing

Task 1
1. Intro: paraphrase lại đề bài
2. Overview: trend chung ko kèm statistics
3. Analyse (1-2 đoạn): phân tích biểu đồ, kèm statistics, chỉ cọn cái tiêu biểu dễ thấy
4. Conclusion: paraphrase lại overview
1, 2, 4 có thể chỉ cần viết 1 câu 2 dòng.

Task 2
1. To what extent do you agree or disagree? Chọn Agree hoặc Disagree rồi đưa ra tối thiểu 2 ý lớn để support. Thân bài chia 2-3 đoạn.
2. Discuss this issue. Chia 2 phe Agree và Disagree, ý kiến của mình nếu hỏi thì cho thêm vào, có thể chọn theo 1 trong 2 phe hoặc ba phải. Thân bài chia 2-3 đoạn.
3. What is its effect/reason?, Why does this happen?… Chia 2 đoạn, đưa về Cause-Effect
4. What is your solution? Đưa về proposal, 2 đoạn thân bài: 1 reason/cause, 2 là solution.

IELTS Speaking

– Part 1: Trả lời đơn giản, khoe từ, dùng từ formal, nội dung từ 2-4 câu.
– Part 2: Chú ý tận dụng thời gian chuẩn bị, ghi xuống các từ vựng định dùng và cấu trúc, đừng ghi xuống câu trả lời cho mấy cái cues. Tập trung trả lời câu cuối cùng trong đống cue questions.
– Part 3: Trả lời trong 4-6 câu, dùng signals để trả lời (First, Second…) cho ý rõ ràng.

Chú ý: nội dung ko quá quan trọng, phát âm chuẩn, rõ ràng, đừng lè nhè, ko ê a (dùng các cụm Well, you know, How can I say it, What to say… để câu giờ). Nói chậm để chú ý dùng ngữ pháp đúng.

by Thanh Xu Jr.

Grammar – Adjectives – Tính Từ

“Phong ba bão táp không bằng Ngữ pháp Việt Nam.”

Hiển nhiên câu này cũng đúng với mọi hệ thống ngữ pháp của tất cả các thứ tiếng trên thế giới này, bao gồm cả tiếng Anh. Ngữ pháp tiếng Anh không hề đơn giản, mà là hợp thành của những nguyên tắc, bất nguyên tắc được tạo dựng trong quá trình hình thành ngôn ngữ từ thưở sơ khai nhất, và hoàn thiện dần trong ứng dụng hằng ngày. Ngữ pháp tiếng Anh gồm hai loại cơ bản nhất, hiểu nôm na là:

1) Ngữ pháp chính tắc (prescriptive grammar) là những quy tắc chính thống (academic and formal) được soạn và thống nhất bởi các học giả và nhà ngôn ngữ học.

2) Ngữ pháp mô tả (descriptive grammar) là hệ thống cấu trúc được các người bản ngữ sử dụng trong văn nói và viết và truyền nhau nên trở thành cấu trúc thông dụng.

Đó chính là lý do vì sao thi thoảng ta thấy native speaker phát ngôn những câu đại loại như: “I don’t have nothing.” Về mặt mô tả, cấu trúc này đúng, tuy nhiên xét theo quy tắc chính thống, câu này sai. Vì vậy, khi học ta cần phải chọn lọc cái nào đúng cái nào sai và hiểu bản chất của cấu trúc để biết cách “bắt chước” cho đúng.

Để phục vụ cho phần đông mọi người nên các đề mục ngữ pháp hướng dẫn trên đây đều được trình bày đơn giản, dễ hiểu nhưng khái quát nhất để các bạn có thể ứng dụng chủ yếu trong hai kĩ năng Speaking và Writing, đặc biệt là kĩ năng sau. Và cách học hiệu quả nhất là làm bài tập, có nhiều bài sẽ có phần bài tập kèm theo, hi vọng mọi người có thể dành thời gian làm và đối chiếu với kết quả được đăng ở những bài tiếp theo. Ngoài ra tương tác giữa những người học cũng có thể giúp cho việc học nhanh đạt kết quả, bạn có thể để lại comment trao đổi về bài học và người viết hoặc những bạn khác sẽ feedback lại. Chúc mọi người có một thời gian học tập vui vẻ và không cảm thấy quá chán nản với Ngữ pháp J.

Hôm nay TXJ xin giới thiệu về ADJECTIVES – TÍNH TỪ trong tiếng Anh.

1) Vị trí của Tính từ

  • Tính từ thường đứng trước Danh từ

I bought a white T-shirt. (not a T-shirt white)

  • Tính từ đứng sau động từ be, get, become, look, seem, appear, sound, taste, smell, feel…

Ms. Xu is very pretty and she looks good with that blue hat. (not looks well)

The material felt soft. (not felt softly)

  • Một số Tính từ không thể đứng trước Danh từ: afraid, alone, asleep, awake…

The cat was asleep on the bed. (not The asleep cat was on the bed.)

2) Trật tự của Tính từ

a/an/the/my/some… + Opinion + Size/Age/Shape + Colour + Nationality + Materials + N

(Tính chất, Kích cỡ, Tuổi, Hình dáng, Màu sắc, Xuất xứ-Quốc tịch, Chất liệu)

 

Để dễ nhớ chúng ta hãy nhớ lấy cụm từ O.S.A.SHA.CO.N.MA (viết tắt của các từ tiếng Anh phía trên) = “ô xa xa con ma”.

 

“AND” được cho vào chỗ nào trong dãy trật tự trên?

  • Giữa 2 Tính từ chỉ màu sắc: a pink and yellow skirt
  • Giữa 2 Tính từ đi ngay sau một Động từ: I am always tired and sleepy.

3) Tính từ đuôi –ing và –ed.

Quan niệm từ trước tới nay về Tính từ -ing và –ed rằng –ing cho vật và –ed cho người là SAI.

  •  Tính từ -ing chỉ bản chất của sự vật, sự việc:

            He is boring. (Anh ta chán lắm, bản chất anh ta là người đáng chán.)

  •  Tính từ -ed chỉ sự vật, sự việc chịu tác động bên ngoài:

            He is bored. (Có gì đó khiến anh ta chán.)

 

Một số bài tập cho chủ đề này các bạn có thể tải tại đây. Thanh Xù sẽ sớm có bài giải đáp cho các bạn.

By Thanh Xù Jr.

Phân tích bài viết của Mat Clark (topic 30)

 Topic 30- Writing by Mat Clark: Should new buildings be built in traditional styles?

By 102

Không giống như topic 16 được đề cập trong bài dưới này , topic nói về mối liên quan giữa architecture đến culture nhiều hơn. Mình rất thích những cấu trúc về culture trong bài viết này, vì nó sử dụng được cực kì nhiều khi bạn phân tích khía cạnh culture của bất kì topic nào. Vì thế, mọi người chú ý nha ^^

TOPIC: Some people believe thate new buildings should be built in traditional styles. To what extent do you agree or disagree with this opinion?

 

1. Keyword

  • Buildings: constructions, erections
  • Build: construct, erect
  • Traditional styles: traditional, classical or ancient formats/ patterns/ models
  • Be undertaken to adhere to a traditional style
  • Old architecture works >< modernised buildings

2. Good vocab:

(Cultural aspect)

  • Be central to a nation’s culture:
  • Characterise a country: đặc trưng cho một đất nước
  • Distinguish one culture from another
  • (Buildings) differ in (styles) from country to country
  • Uniqueness of (architecture style)
  •  Integrity of the cityscape: tính thống nhất, toàn vẹn của quang cảnh thành phố( my suggestion: piecemeal city planning à city looks like a mess: tình trạng của nước ta nè, cũng chính là destroy integrity of the cityscape đó)
  • Preserve classical (architecture) à the mingling/ mixture of (buildings) of different ages and types à the diversity of (buiding models)
  • Retain/ preserve cultural heritage: gìn giữ những di sản văn hóa
  • Maintain, preserve and reinforce national/cultural identity: gìn giữ và củng cố bản sắc dân tộc/ văn hóa
  • Create modern identity of a country
  • Remind people of the heritage of the country: nhắc nhớ mọi người về những di sản của đất nước
  • (v) bridge the past and the present history: gắn kết quá khứ và hiện tại

(những từ mình để trong ngoặc là từ chúng ta có thể thay đổi rất linh hoạt tùy chủ đề nhé)

(Others)

  • A coexist with B: cùng tồn tại với
  • Perform different functions and serve dissimilar purposes: thực hiện những chức năng, phục vụ những mục đích khác nhau (khi nói về sự tồn tại song song của những thứ khá trái ngược đều có thể dùng cấu trúc này)
  • Ceaseless pursuit of sth: sự theo đuổi, sự mưu cầu không ngừng gì (điều gì đó)
  • Destroy= impair

Phân tích bài viết của Mat Clark (topic 16)

Topic 16- Writing by Mat Clark: Housing shortage, who can solve?

Architecture, theo ý kiến cá nhân mình, là một topic khó, và thường không được mọi người chú trọng khi ôn IELTS (có lẽ vì không thường gặp chăng?). Nhưng càng khó thì càng phải học, để gặp nó chúng ta có thể dễ dàng đương đầu, nhỉ? Trong bài note này và bài note tiếp theo của mình, mình sẽ làm về topic này. Còn tại sao không gộp lại làm một như bài này thì khi đọc kĩ 2 bài essays bạn sẽ hiểu.

TOPIC: Only Government action can solve housing shortages in big cities. To what extent do you agree or disagree?

1. Instruction: “agree or disagree?” đây có thể thấy rõ là câu hỏi dạng bài argumentative essay.
Nhưng extreme word ở đây là “only”. Rất common sense thôi, bạn có nghĩ một urgent social issue nào có thể giải quyết với sự đóng góp chỉ từ 1 tổ chức/ 1 nhóm người ko?
Do vậy đề này để viết kiểu totally agree hay totally disagree là cực kì khó.
Cái mình muốn nhấn mạnh ở đây vẫn chỉ là một điều: two sides hay one sides là tùy đề, và tùy vào ideas của bạn ^^
Phần lớn đề thi IELTS là controversial issue, vì vậy trong quá trình preparation, hãy tập suy nghĩ vấn đề từ 2 chiều bằng cách tìm ra những lỗ hổng của statement (thường là những extreme word).
Lay-out của bài: (-) Government control
(-) Government control
(+) Government intervention

2. Key words:
– Government (xem lại note “Learn from essay 2)
– Action: intervention, control
– Solve: adress, tackle, deal with, cope with
– House: property
– Housing shortage: housing scarcity
homelessness, inadequate housing
(my suggestion: slums, shanty town, sleep in shop doorways or under bridges)
– Solve housing shortage: meet/ fulfill the demand for homes/ shelter/ accomodation
– Big cities: urban area
3. Body 1: (-) 2 ideas chính ở topic sentence là hamper the private sector (1) và pose a huge burden upon on the state (2). Mình sẽ liệt kê những từ chính để support (explain) cho từng idea này.
– (1): private property developers, housing industry, housing market, property market
– (2): tight budget, release sb from the burden of sth/doing sth
– Hamper = hinder = impede
– Specific “Government action”: funding large-sized construction programmes
– Good vocab:
+attract public consumption: thu hút sức tiêu thụ của cộng đồng
+ accelerate economic development: đẩy nhanh sự phát triển kinh tế
(rất hay trong các vấn đề economic như advertising chẳng hạn)

4. Body 2: (-) stagnancy of construction quality, functionality, facilities,..of housing
– (specific) housing: apartment blocks, residential constructions
– in similar pattern = uniformity
– cityscape -> monotonous
– fail to meet comprehensive requirement.
( Grammar: trong Wr, thay vì viết ở dạng phủ định như donot, “fail to do sth” là một cách thay thế formal hơn thường được sử dụng)
 “negatively influence the supply and demand relationship” (được nhắc đến trong conclusion)

5. Body 3: (+) help disadvantaged citizens
– (Specific): single parents, people with disabilities (disabled people),low-income families, vulnerable individuals
(my suggestion: people of financial adversity)
– Not ready to afford commercial housing
– Government action:
+ housing allowance: trợ cấp nhà ở
+ economical houses: nhà ở dành cho người thu nhập thấp

6. Conclusion:
– Vocab : cấu trúc này thường được dùng khi nói đến vai trò của các bên trong 1 vấn đề nào đó:
+ joint effort of A and B: nỗ lực chung/ nỗ lực từ 2 phía của A và B

by 102

Phân tích bài viết của Mat Clark (topic 10 & 11)

How to spend Government budget properly.

Việc nên đầu tư tiền vào lĩnh vực nào được đề cập khá nhiều trong các kì thi IELTS. Hôm nay mình chọn 2 topics này để học vì thấy nó khá tương đồng về mặt câu hỏi: “Should Government allocate money to sectors that bring tangible benefits or those posing intangible ones?” nhưng lại khác nhau về góc nhìn của người viết. Điều này đặc biệt được phân tích rõ ở Paragraph thứ 3 trong phần body, thể hiện 2 styles viết khá khác nhau để chúng ta học tập.
Thử nghiệm tí chút ^^: Lần này, cùng với việc note ra từ bài essay, mình sẽ đưa thêm cả những từ mình biết, nhưng chưa thấy đề cập đến trong bài. Nếu mọi người ủng hộ thì mình sẽ tiếp tục làm vậy ở những note sau, còn nếu các bạn không thích thì lần sau mình sẽ chỉ note từ bài thôi ^^.

TOPIC 10: Some people argue that the Government should spend money on public services and facilities, but not on the arts. Do you agree or disagree?
TOPIC 11: Some people argue that the Government should spend money only on medical care and education but not on theatres or sport stadiums. Do you agree or disagree?

I. PARAPHRASE KEY WORDS:

1. Government = authorities, municipalities, councils, leaders, democracies, politicians, administrators, elected officials
2. Spend = allocate, inject, fund, invest, budget, direct (towards)
3. Money = public money, budget, resources, spending

II. NARROW DOWN TOPIC:

Ở đây Mat Clark đã dùng từ nghĩa hẹp để thay thế cho những danh từ có nghĩa rộng như public services and facilities, the arts. Điều này giúp bài tránh được lỗi over-generalization và thể hiện được cho examiner thấy rằng người viết thực sự dig deep into the topic. Đây là điều chúng ta rất nên học tập.

1. Public services and facilities

= municipal buildings, courthouses, post offices
= libraries, hospitals, parks, playing fields, gymnasiums, swimming pools
= transport network/ system
= public internet service
= infrastructure

2. The arts = music, film, literature

3. Medical care = medical services, healthcare system, healthcare services

4. Theatres and sport stadiums = recreational and entertainment projects

5. Be precursor to = be fundamental to (1 cách nói dùng (n) và 1 cách dùng (adj) giúp bài viết đa dạng hơn)

***My suggestions:
1. Play a key role (have a key role to play) = carry much weight with = be backbone of = be of paramount importance

2. Material/ visible benefits:
+ Social benefits + economic merits = social and economic well-being/ development
+ Provide people/ the needy people/ citizens with something = satisfy the needs of citizens
(*** my suggestions: cater/ accommodate the needs of = meet the demands of)
+ Stability and development of a country
+ Social solidarity

3. Psychological rewards:
+ see the world and the human condition differently
+ see the truth one might ignore before
+ raise people’s sense of national pride and ethical unity
+ bring artistic pleasure
+ Improve living standard

III. NOTE from Topic 10:
– Promise the smooth and speedy movement of : hứa hẹn việc giao thông thuận lợi (cụm từ này không có từ lạ, nhưng mình rất thích cách dùng từ promise và smooth ở đây, thay vì viết một cách khá thô kiểu như “make movement more convenient” ^^)
– (Grammar: đảo ngữ + danh từ hóa): One of equal important are public Internet facilities: thay vì viết “Public Internet facilities are equally important.”
– Flourish = thrive =prosper = bloom (cùng trong body 3, ở cuối cùng là từ survive, thì có 1 cụm rất hay là “survive and thrive” được dùng trong writing khá nhiều, cái này kiểu như luyến láy của TV mình đó ^^)
– Pass down from one generation to another

IV. NOTE from TOPIC 11:
– Empirical knowledge; academic research
– Eliminate illiteracy
– Impoverished families (***my suggestion: disadvantaged and marginalised populations)
– Shake off poverty, climb high in the social ladder, live better off
– National output
– Inspire the loyalty of citizens
– (specific) unemployed, sick, injured, retired
– (specific) visit the clinic, hospitalisation, or buy drugs
– The hierarchy of human needs: thang nhu cầu (của Maslow đó, bạn nào ko biết có thể search Google để biết rõ nhé, rất hay ^^)

V. STRUCTURE:
COMPARE BODY 3 of the two ESSAYS
Như đã nói ở phần đầu, điều làm nên sự khác biệt lớn nhất trong cách viết giữa 2 bài essays này.
TOPIC 10: Totally Agree
(+) public facilities
(+)public facilities
(-) the arts:

TOPIC 11: Neutral Position
(+) education
(+) medical
(+) theatres and stadiums: neutral position
Chi chú: (+) for; (-) against

Mình note lại layout này bởi vì đã có quá nhiều tranh cãi rằng dạng bài argumentative essay nên viết one side hay two sides. Điều khẳng định là bất kì focus nào trong đề bài thì chúng ta đều phải viết về nó, viết như thế nào phụ thuộc vào ideas mà thôi. “Do you agree or disagree?” đơn giản chỉ là hỏi về your viewpoint, và trong trường số từ “NO” đến “YES” bạn hoàn toàn có thể chọn cho mình 1 điểm ở giữa

VI. BRAINSTORMING:
Sở dĩ đưa ra 2 topics trong cùng 1 bài note là vì muốn chia sẻ cách brainstorm cho dạng bài phân bổ tiền sao cho hợp lí đây nè.
Một cách mà mình thường sử dụng khi brainstorm là tự hỏi và tự trả lời 1 loạt câu hỏi. Với dạng này, mình suggest các bạn 1 vài câu hỏi dựa trên 1 vài tiêu chí:
1. Economic:
– What is more economic?
– More money-saving?
– Can people enrich knowledge, reach higher status, enjoy better life?
– Does it help to develop our economy? Why and why not?
2. Human right:
– Fair or unfair? Who suffer?
– Humane or inhumane?
3. Cultural value:
– Affect our culture or not? How? (forget traditional custom, contain offensive materials,…)
4. Political sense:
– Safe for country or not?
– Affect security or not? (security trong rất nhiều lĩnh vực như military, food,…)

Tương tự, với các dạng đề khác, các bạn có thể áp dụng cách này, nghĩ ra các câu hỏi khác nhau, cụ thể hơn để giúp việc brainstorm nhanh hơn.
Have fun!

By 102

Hành trình vượt biển của cậu bé VIC

Dựa trên câu chuyện có thật của 1 VIC member…

Ngày xửa ngày xưa, à không phải ngày nảy ngày nay mới đúng, có một hoàng tử nhỏ tên Vic sống ở một vương quốc xa xôi nọ. Cuộc sống của cậu đang êm đềm, hạnh phúc bên những người thân yêu quí ở đất liền là một vùng quê nho nhỏ hình chữ S có tên Việt Nam. Bỗng một ngày cậu nhận được “thánh chỉ” phải rời xa nơi chôn rau cắt rốn để bắt đầu nhiệm vụ đi thám hiểm những vùng đất mới. Tuy nhiên, để đến được với phần còn lại của thế giới, cậu phải vượt qua một khu vực “tam giác quỷ” có tên IELTS với những xoáy nước sâu đầy bí hiểm. Hành trình “vượt biển” của cậu bắt đầu.

Lòng đầy lo lắng nhưng cậu vẫn khăn gói lên đường. Lần đầu tiên tiếp xúc với IELTS, cậu bé hoảng hồn trước dòng nước lạnh buốt chỉ chực chờ nuốt chửng mình. Cố với những ngón tay tê cóng lên, cậu vẫy đại một tên cò để hắn đưa lên một con thuyền đẳng cấp 5 sao (một trung tâm luyện thi IELTS có tiếng nhất Việt Nam) sau khi cắn răng trả một cái bill khổng lồ. Với tốc độ vào hàng khủng cộng khả năng lướt êm như ru, cậu chắc mẩm mình cứ kê cao gối ở trên chiến hạm này, chẳng mấy mà đến đích. Thế nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, sau đúng 5 tuần cái ví bướng bỉnh chẳng cho phép cậu ở lại. Gạt nước mắt rời khỏi “dream voyage” cậu đành đưa chân lên một chiếc xuồng cứu hộ con con để tiếp tục hành trình dang dở của mình.

Nhẩm lại trong túi còn vài đồng, cậu thử vẫy 1 tàu đánh cá- trung tâm luyện thi xoàng xoàng hơn – nhưng cũng chẳng khác là bao. Quãng đường trước mắt vẫn xa vời vợi, mịt mù trong màn sương vô vọng.

Lênh đênh ngụp lăn trong tâm trạng chán chường đó một thời gian bao lâu cậu cũng chẳng nhận ra nổi. Cảm giác tức tối, ấm ức bao trùm cậu. Cậu ghen tị với bầy sứa facebooker vẫn hằng ngày lượn lờ ngang qua . “Tụi này sướng thât, chả phải lo nghĩ gì, cứ thoải mái thả mình theo dòng nước”- cậu hậm hực – “thôi kệ, đã thế mình cũng tạm buông xuôi đã”. Gác nhiệm vụ sang một bên, cậu nhập hội với đám “đèn lồng” đó trôi vô định trong không gian.

Bỗng một ngày cậu chợt thấy xung quanh mình ấm áp lạ, giật mình nhận ra vì mải mê đi theo bầy sứa, cậu tình cờ lọt vào một dòng biển nóng có tên “Hội các sĩ tử luyện thi IELTS”. Ngơ ngác một hồi rồi cậu đánh liều hỏi một chàng thủy thủ đi ngang gần đó “các bạn đang đi đâu thế, cho mình theo với được ko?” “Được chứ, có gì chưa rõ bạn cứ chia sẻ với tụi mình nhé”- chàng đáp lại cùng một nụ cười tươi rói. Thế là từ đó cậu bỗng có một thói quen kỳ lạ: hằng ngày ngâm mình trong dòng nước ấm áp đó. Cậu lại còn có thêm bao nhiêu bạn bè tốt từ chàng thủy thủ vừa hào hiệp vừa học giỏi mà cậu thầm ngưỡng mộ đến các bác ngư dân cực kì vui tính và tốt bụng. Cậu ao ước một ngày được như những cao thủ là các vì sao trên bầu trời soi đường chỉ lối cho các bạn hoặc có thể bơi cùng những nàng mỹ nhân ngư admin xinh xắn luôn dịu dàng động viên mỗi khi cậu mệt mỏi. Có thứ đồ ăn, đặc sản biển (tài liệu) nào hay hay cả nhóm lại chia ngọt sẻ bùi với nhau, khác xa mấy thứ đồ đóng hộp vừa nhạt nhẽo vừa mắc tiền trên con tàu luyện thi sang trọng. Dần dần cậu khỏe lên lúc nào ko rõ và thay vì chỉ ngóng đợi những của ngon vật lạ của mọi người, cậu bắt đầu tự lang thang tìm kiếm món ăn cho cái dạ dày háu đói của mình và còn chia sẻ lại với các bạn của mình. Cậu vui vì mình được cho đi, hạnh phúc vì đóng góp nhỏ nhoi của mình hữu ích cho các bạn.

Rồi chính cậu cũng không thể ngờ thói quen lướt Facebook vô định của cậu đã hoàn toàn trôi vào quên lãng. Cậu háo hức mỗi ngày lên học hỏi những điều mới. Chỉ vài tháng trước thôi, cậu còn hoang mang không để đâu cho hết khi nghĩ tới viễn cảnh bị đá ra khỏi mấy trung tâm không thương tiếc, nhưng giờ đây cậu mỉm cười với những gì đã qua bởi cậu biết cậu đã có thể tự bươn chải và quan trọng hơn, cậu không còn cô đơn nữa.

Đến một buổi chiều ngồi ngắm hoàng hôn trên biển, cậu tình cờ hỏi bác ngư dân: “Bác ơi sao có những bạn thậm chí đi sau cháu mà họ lại về đích sớm hơn thế?”. Tưởng chỉ hỏi vu vơ vậy thôi nhưng bác liền mỉm cười thú vị :” Cháu làm thử xem nhé, đứng ra trước mũi thuyền và dang 2 tay ra 1 lúc, thử xem cảm thấy điều gì nhé”. Cậu tò mò làm theo và quay lại cười toe toét “Gió bác ạ, nó đẩy cháu lên phía trước và nâng bổng 2 cánh tay lên”. Từ tốn bác giải thích: “Gió chính là nguồn năng lượng khổng lồ từ Hội chúng ta đó, hãy tận dụng tốt nó để đi được xa nhé”. Cậu liền phụng phịu: “Nhưng đôi bàn tay cháu quá bé nhỏ để đem ra trước gió, đâu có mấy hy vọng”. Bác liền bật cười: “Thế cháu có biết người xưa đã sử dụng sức gió như thế nào không, họ chế ra những cánh buồm- đôi tay nhân tạo rất rộng lớn phục vụ cho chuyến vượt biển này đấy. Cậu chợt bừng tỉnh “Ôi cháu hiểu rồi” và cắm đầu chạy thục mạng đến 1 cái kho có tên “Notes” đến nỗi quên cả việc cảm ơn . “Phải rồi, việc của mình bây giờ là tìm cách lôi ra cho bằng gần hết 110 cánh buồm notes này mới mong đi nhanh được”- cậu nhủ thầm và khe khẽ hát một mình “Gió lên rồi căng buồm cho khoái”…

Nhờ phát hiện trên, cậu băng băng lướt sóng trong niềm hân hoan tột độ. Chưa bao giờ cậu học say sưa đến thế, chưa bao giờ cậu tự mình lái những cánh buồm đón gió và mơ về một miền đất hứa. Song vẫn còn một nỗi ám ảnh mà ngay cả nghĩ đến thôi cậu đã toát mồ hôi sợ hãi :”cậu chưa bơi được bằng sức của mình”, cả 2 kiểu bơi “speaking và writing” nó đều bập bõm được 1 lúc rồi nghỉm hẳn”. Dường như đọc được suy nghĩ của cậu, mỹ nhân admin liền khích lệ :”Dũng cảm lên em, không xuống nước thì sao biết bơi nổi. Đừng lo lắng quá, vùng nước forum này rất ấm và an toàn đó”. Cậu nghĩ thầm “Mình phải cố gắng thôi. Mình có thể làm được!” Những ngày đầu cậu gần như hụt hơi, ngộp thở nhưng không vì thế mà cậu nản lòng bởi cả đại gia đình Hội các sĩ tử luyện thi IELTS đang uốn nắn cho cậu từng động tác. Chỉ sau 5-7 bài viết cậu đã cảm thấy mình tiến bô vượt bậc và thậm chí có thể bắt đầu sửa lỗi cho những newbie còn lẫm chẫm.

Miệt mài một thời gian bao lâu cậu cũng không nhớ nữa thì “thánh chỉ đến” yêu cầu cậu phải vượt qua 1 trong 2 eo biển hẹp có tên BC và IDP nước chảy rất xiết. Cậu vừa hồi hộp vừa lo lắng bởi chỉ còn 1 bước quyết định này thôi là cậu sẽ sang đến miền đất hứa. Cậu không khỏi bủn rủn trước những vụ lật thuyền của bạn bè trong quá khứ hay những dự báo về con sóng thần “process” sắp đổ bộ. Cuối cùng cậu tặc lưỡi “không còn đường lui nữa, quyết một trận sống mái thui”. Ngày cậu khăn gói “qua sông” cả một cộng đồng bịn rịn dặn dò chúc cậu may mắn. Công nhận là đề thi cũng rất xoáy nhưng quả thật những giờ luyện tập gian nan đã phát huy tác dụng, những cánh tay chắc khỏe của cậu bắt đầu gạt những dòng nước dữ sang một bên để tiến lên phía trước…

Chỉ nhớ được là đã làm hết khả năng của mình, cậu vỡ òa khi nhận được tấm giấy thông hành đến một chân trời mới. Những mỹ nhân ngư cùng các vì sao nhấp nháy chào đón cậu cùng sánh vai và soi sáng những chặng đường cho các thế hệ sau bước tiếp. Cậu tự nhủ, từ giờ mình đã có thể tự đi nhưng sẽ vẫn còn quay lại với nơi thân quen có những người bạn đáng mến này. Và bất chợt cậu lại thấy xa xa hình bóng một con bé rụt rè, ngơ ngác trước dòng nước lạnh, cậu thấy sống mũi mình cay cay…

Nhắn nhủ:
Nhiều bạn cứ nghĩ bỏ ra 1 đống xiền là sẽ thi được IELTS, kì thực ko phải thế, nếu bạn chưa đến được đích cần đến, bạn phải tự bơi bằng sức của mình.

By Minh Hoa

Sinh nhật 2 tuổi của VIC (TP.HCM)

Khai sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh và sau 2 năm dài, Hội các sĩ tử luyện thi IELTS (Vietnamese IELTS Community) đã có 1 buổi sinh nhật thật ý nghĩa trong một không gian ấm áp và thân thiện.

Tuy lần đầu gặp mặt nhưng những trò chơi vui nhộn đã nhanh chóng kéo mọi người lại gần nhau. Chỉ sau vài câu chuyện, các bạn đã cởi mở, chia sẻ nhiều điều về bản thân, những kinh nghiệm, khó khăn gặp phải trên con đường chinh phục IELTS.

Không chỉ được vui chơi thoả thích và nhận quà từ Hội, các bạn còn được tham gia hoạt động trao đổi sách. Nhiều bạn lấp lánh ánh mắt hạnh phúc vì được sở hữu những cuốn sách mình từng mơ ước. Số sách còn dư sau hoạt động này mình mang về cất để dành cho 1 buổi trao đổi sách tiếp theo ^^

Đến cuối buổi, tất cả đã trở nên thân thiết như quen nhau từ thưở nào và giây phút quây quần bên nhau cùng hát Happy Birthday đã trở thành kỷ niệm khó quên với tất cả. Lúc đó, mình đã ước Hội mình càng phát triển hơn nhưng tinh thần chia sẻ và tình cảm gắn bó, thân thiết này sẽ còn mãi. May mà bài hát Happy Birthday kết thúc trước lúc nước mắt mình rơi vì hạnh phúc và cảm động.

Không khí vui vẻ nhanh chóng chiếm trọn căn phòng bởi ngọn nến thổi 5 lần vẫn không tắt ^^

Yêu mọi người nhiều lắm. Cám ơn Blueup đã hỗ trợ cho buổi sinh nhật và món quà thật tuyệt vời, yummy của GMP.

Mong rằng sẽ còn gặp lại những gương mặt đáng yêu của các bạn trong sinh nhật năm thứ 3 của Hội các sĩ tử luyện thi IELTS.

Tú Quỳnh

Administrator

Hỏi đáp về Speaking

1. Làm thế nào để nói tiếng anh thật thành thạo và phản xạ nhanh?

Theo lời khuyên của các giáo viên thì nên tập suy nghĩ bằng tiếng anh,như vậy thì mới có phản xạ nhanh được. Một cách luyện hiệu quả là trc khi đi ngủ dành 10′ để suy nghĩ mọi việc trong ngày bằng tiếng anh. Và quan trọng nhất là thực hành, thực hành và thực hành.

2. Làm sao được điểm cao phần speaking? Mình đã tham khảo vận dụng cấu trúc của Mark Clark nhưng part 2 mình cố gắng nói chậm để phát âm chuẩn nên không đủ giờ, kết quả chỉ được 4.5.

Quan trọng là bạn nên tham khảo thôi và biến cái của người ta thành cái của mình, chứ đừng sử dụng 1 cách máy móc, vì nếu bạn nói ko tự nhiên, thì giám khảo sẽ nhận ra ngay.
Cấu trúc của Mat Clark dành cho các bạn ko thể produce các cấu trúc câu phức tạp trong bài nói của mình và không có nhiều ý để nói. Còn nếu bạn đã có nhiều ý rồi thì ko nên lạm dụng mấy cấu trúc đó gì, sẽ bị lố giờ mà không kể được những nội dung quan trọng. Ngoài ra, điểm speaking của bạn còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như fluency, grammar, vocabulary, pronunciation nữa.

3. Khi thi speaking, lỡ mình nói phải 1 từ mà mình phát âm không chuẩn khiến examiner không rõ. Họ hỏi lại mình, mình explain từ đó nhưng họ vẫn có vẻ không hiểu. Để tiết kiệm thời gian, liệu mình có nên spell từ đó ra không hay cố giải thích cho họ hiểu?

Giải thích cho họ hiểu hoặc đơn giản hóa rồi chuyển ý. Không đánh vần.

4. Nên nói theo form hay nói free?

Bản chất của các form speaking (Trong 2 cuốn Mat Clark và Mark Allen) rèn cho chúng ta cách nói logic giữa các ý giúp người nghe dễ hiểu và score bạn cao hơn. Điều này rất quan trọng. Tuy nhiên khi thi chúng ta phải tận dụng các form một cách linh hoạt, và quan trọng là kết hợp form với một cách nói tự nhiên, thái độ tích cực. Một vài từ academic, phrasal verbs hay idioms cũng giúp bạn đạt điểm cao hơn!

Tổng hợp: Bùi Tuyết Vân & Nguyễn Tiến Chương

Hỏi đáp về Listening

1. Làm thế nào để biết khi nào cần thêm “s”?

– Tập nghe số ít số nhiều. Cái này là căn bản nhất.
– Đoán khi nghe. Nếu có a/an thì sẽ là số ít, không có thì khả năng là số nhiều.
– Kết hợp đoán ý với thông tin trong bài điền, sẽ tìm ra cái hợp lý hơn. Ví dụ khi nói đến nhiều thứ tương tự nhau thì khả năng sẽ đều là số ít hoặc đều là số nhiều.

2. Nên luyện nghe như thế nào, vừa nghe vừa nhìn script hay chỉ nghe thôi?

Em cứ nghe và làm các bài trong Cambridge IELTS. Làm xong check đáp án và nghe lại 1 lần nữa những câu mình sai để biết tại sao mình sai mà lần sau tránh. Nếu vẫn không nghe ra mới xem script. Ngoài luyện các bài trong Cambridge, em cũng nên luyện nghe thêm ở ngoài, ví dụ trên các trang voa, bbc. Khi nghe tin tức dạng này, nên take note những ý mà mình nghe được, ban đầu sẽ khó khăn nhưng vậy nhiều sẽ quen và trình độ nghe sẽ tốt hơn. Làm xong nghe lại với tape script để kiểm tra và học phát
âm chuẩn.

3. Trang nào hay để luyện nghe?

  • Nếu trình độ nghe của bạn còn yếu thì nên bắt đầu với Listen Carefully hay Listening Extra của Miles Craven. Sách chia thành các bài nghe theo từng dạng, cơ bản và đơn giản cho beginners.
  • Các website luyện nghe: recommend trang này của Randall: http://www.esl-lab.com/. Bài nghe là các dialogues ngắn chia theo topics và trình độ từ Easy đến Difficult. Từng bài nghe còn có bài tập MCQs ở dưới cũng như Scripts kèm giải thích từ mới. Ngoài ra còn nhiều trang khác mọi ng tự google thêm nhé
  • VOA special English, tốc độ không quá nhanh.

Bạn nên nghe theo các bước sau:
1. Bật lên nghe vô thức, cứ để các sounds lướt qua tai xem mình cảm nhận được bao nhiêu.
2. Nghe có ý thức, tập trung nghe và bắt key words và hiểu nội dung. Lặp lại vài lần nếu thấy bài nghe quá nhanh và lạ tai.
3. Nghe và tập take notes lại ý chính và key words.
4. Giờ là lúc giở scripts ra check xem mình nghe được bn, nghe âm nào đúng âm nào sai.
5. Nhìn scripts vừa nghe vừa nói lại các câu nhại theo người ta. Cố gắng phát âm chuẩn và ngữ điệu lên xuống giống họ.

  • BBC, CNN, xem tivi, xem phim (tốt nhất là không phụ đề hoặc phụ đề Tiếng Anh).
  • Ra hồ Gươm hay mấy nơi du lịch tìm vài anh chị Tây và bắt chuyện. Bạn có thể tham gia CLB TA nào đó hay hoạt động gì đó liên quan. Giai đoạn này chính là thực hành những gì bạn đã học và luyện. Rất quan trọng đấy nhé.

Tổng hợp: Bùi Tuyết Vân & Nguyễn Tiến Chương